PHƯƠNG PHÁP TU TỊNH
TỌA
THIÊN I
LỜI TỰA CỦA ÔNG TƯỞNG DUY KIỀU
Nói về đời tuổi trẻ của tôi, mà tôi đã từng kinh nghiệm (theo lời
thuật của ông Tưởng Duy Kiều)…
Tôi thuở nhỏ thân thể ốm yếu, nhiều bệnh
hoạn, như chứng: Mộng tinh, di tinh, chóng mặt, đau lưng, mắt lòa, tai ù! Mỗi đêm ngủ đổ mồ hôi trộm .v.v… Nhiều chứng
không phải một.
Sức tôi quá yếu, không thể dở bước đi được
năm trăm thước. Đến năm mười sáu tuổi,
các bệnh trạng lại càng thêm. Như chứng
hồi hộp sợ sệt, và hàn nhiệt vãng lai (nóng rồi lạnh).
Năm tôi mười bảy tuổi, vào tiết xuân, mỗi
ngày từ một giờ phát nóng, cho đến sáng mai mới hết, liên miên như vậy đến năm
mươi tám tuổi, tôi trị thuốc luôn, nhưng không thấy thuyên giảm.
Thuở ấy trong nhà tôi có bộ sách thuốc tên
là: “Y Phương Tập Giải”. Tôi lấy quyển
chót hết ra xem, thấy trong ấy có chép: “Những bệnh (như bệnh tôi) không thể trị
thuốc lành, cần phải tự mình tu tịnh tọa mới có thể lành bệnh”. Trong sách ấy cũng có dẫn giải về phương pháp
tu tịnh dưỡng theo đạo gia Tiểu Chu Thiên.
Tôi liền y theo đó học tập tịnh tọa, quả
nhiên có công hiệu, bệnh tôi được lành.
Khi bệnh tôi lành từ năm mười chín tuổi, tôi bỏ qua sự tu tịnh tọa công
phu. Đến năm hai mươi hai tuổi tôi cưới
vợ, tự cho là thân thể tráng kiện (nên bỏ hẳn công phu tịnh tọa). Lại không tiết dục nên bệnh cũ phát sanh, chứng
bụng to và ống thực quản sưng, các bệnh kéo dài mãi.
Đến năm tôi hai mươi bảy tuổi, anh lớn tôi
bị bệnh phổi chết, tôi cũng vì yếu nên bị truyền nhiễm. Năm hai mươi chín tuổi, tôi bị bệnh ho, chẳng
bao lâu bị thổ huyết, trải qua ba tháng, bệnh tôi lại càng nguy kịch hơn.
Thuở ấy, tôi quyết tâm dứt trừ vợ con và
không uống các thứ thuốc, ở riêng một tịnh thất, dứt hẳn các công việc đời để
tiếp tục tu hành tịnh tọa công phu. Tôi
quy định ngày giờ tịnh tọa. Giờ Tý, giờ
Ngọ, giờ Mẹo, giờ Dậu, mỗi ngày bốn thời như thế. Mỗi khi vô ngồi đủ hai giờ đồng hồ mới ra.
Như thế gần ba tháng, khi tôi ngồi xong,
dưới bụng tôi lần lần phát nóng, sức nóng mỗi ngày tăng gia nhiều. Nơi bụng tôi rung động nóng trào tợ hồ như nước
sôi, mãi đến tháng năm đêm 29, dưới bụng tôi đột nhiên chấn động. Bắp vế tôi cũng rung động đến lưng và xương sống
nóng xuống xương hông, dọc lên xương sống giao cảm với thần kinh (theo sách thuốc
gọi là thúc mạch) thông lên mé sau bộ
não. Trong đêm ấy, nó chấn động liên tiếp
sáu lượt lần lần mới hết.
Kể ra, tôi bắt đầu ngồi vào ngày mùng 5
tháng 3 năm hai mươi tám tuổi, tiếp tục tịnh tọa, cho đến 29 tháng 5, chỉ có
tám mươi lăm ngày thôi. Từ ngày ấy trở về
sau, mỗi khi tôi vào ngồi thì sức nóng ấy y như trước, đi thẳng đường lên đỉnh
đầu. Nhưng trải qua thời kỳ nóng và sức
chấn động như thế, thì thân thể tôi trở thành mạnh khoẻ và hoàn toàn lành hết
các bệnh tật. Giờ đây tôi cất bước đi mạnh
dạn mỗi khi đi chân, hơn mười cây số mà chẳng thấy mệt nhọc.
Từ đây về sau tôi công phu tịnh tọa không
gián đoạn.
Đến năm tôi hai mươi chín tuổi, vì vấn đề
sanh kế, nên nhận lời mời làm giáo sư dạy học, vì thế mà sự ngồi tịnh tọa mỗi
ngày chỉ còn sớm và tối.
Cũng trong năm ấy, (năm 29 tuổi) tháng 3
ngày 28 vào buổi sáng mai, dưới bụng tôi sức nóng lại chấn động, đi dọc theo
xương sống đi lên rung động lên mé sau não, luôn như vậy ba ngày đêm. Xương mé sau não tôi thoạt nhiên thấy nở rộng
ra, rồi nhiệt lực từ bắp vế tôi nó xoay vần lên đầu. Từ đây trở về sau, mỗi khi vào ngồi đều chuyển
động như vậy. Kế một thời gian nữa hết
chuyển động.
Cho đến ngày mùng 5 tháng 10 cũng năm ấy,
(năm 29 tuổi), vào lúc nửa đêm, dưới bụng tôi lại chấn động rồi chuyển dần lên
đầu tôi, những nhiệt lực như trước kia.
Nhưng lần này nó tương phản phương hướng. Sức nóng ấy đi từ bụng lên đầu, rồi đi thẳng
xuống mặt rồi xuống miệng và lỗ mũi xuống yết hầu, lại hiệp làm một đường, chạy
dọc theo thần kinh đi dọc theo ngực rồi xuống bụng dưới (theo y học gọi là nhâm mạch).
Từ đây về sau, mỗi khi vào ngồi thì sức
nóng ấy bắt đầu từ dưới xương mông theo xương sống đi lên tới đỉnh đầu tôi, rồi
lại từ mặt đi xuống đến bụng.
Từ đó trọn năm chẳng thấy còn bệnh gì có
thể phát sanh nữa. Nên biết phương pháp
tu tịnh tọa này:
Ø Làm cho tâm thần an tịnh
sáng suốt phát huệ nhớ dai hơn mọi người.
Ø Làm cho thân thể
tráng kiện và trừ hết tất cả các chứng bệnh. Mà chính tôi đã thực hành, kết quả tốt đẹp
không phương thuốc nào bằng.
Tôi cũng từng chỉ dạy nhiều người được kết quả mỹ mãn như tôi, nếu
ai chưa tin, xin thực hành rồi sẽ thấy hiệu quả chẳng sai. Trong sách có dạy rằng: “Tâm an, mâu ốc ổn, tính định thể căn hương”. Nghĩa là: “Chúng ta luyện tập tâm tánh mình
được an tịnh rồi, dù ở hoàn cảnh nào cũng thấy an vui. Và tính ta có nhiều định lực (hay là định hướng
của đời ta) chắc chắn rồi, dù là ăn rễ rau cũng cảm thấy ngon hơn cao lương mỹ
vị. Những hạng người, tâm tánh không định,
họ đứng trước các hoàn cảnh hay một đóa hoa tươi đẹp sẽ bị chi phối. Họ luôn bị nhục dục cám dỗ, và làm tay sai
cho lợi danh ảo mộng v.v... Họ sống như say, thác như ngủ, mặc tình cho thị hiếu
đòi hỏi...cứ trôi lăn theo bể ái, sóng tình của đời phồn hoa cám dỗ! Khi tỉnh lại giấc mơ, thân đã già, người đã cằn
cổi rồi. Chừng ấy còn đâu là nghị lực nữa.
May
thay, đời niên thiếu của tôi sớm hồi tỉnh lướt qua cơn bảo tố ấy... Hôm nay tuổi
già gần chín mươi nhưng nghị lực dồi dào đầy nhựa sống, sống như thanh
niên. Đấy là do tôi tu tập tịnh tọa tập
trung tư tưởng, tôi cảm thấy nó thanh thoát vô cùng. Không còn bị một cái gì lay chuyển hay cám dỗ
được tôi dù đứng trước một sắc đẹp tuyệt vời đi nữa…
Nếu ai gia tâm thực hành đến đó sẽ thấy
tâm con người có một mảnh lực sai chuyển mọi vật, linh diệu phi thường. Khi ấy cảm thấy hứng thú cao khiết hơn mọi
người ở đời này.
Cũng như trong sách dạy tu thiền định nói:
“Chuyên tâm nhất xứ vô sự bất biện”.
Nghĩa là: Ở đời đây, chúng ta chuyên chú tâm vào một việc gì, thì việc ấy
mới có thể làm xong, dù ở hoàn cảnh nào, nếu ta thiếu chú ý, thì công việc gì
cũng khó nên. Vì vậy, sự tu tập tịnh tọa,
cốt yết là thâu hết các biện lực của tâm vào một cảnh định, nên tâm ta có sức mạnh
phi thường hơn mọi người, mà lắm khi còn sai khiến được bao nhiêu người khác ở
chung quanh ta.
Lại trong sách cũng có câu: “Học đạo vô
tha cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ”. Nghĩa
là: Sự học vấn của các đạo Thánh Hiền không chi lạ, chỉ tìm chổ phóng tâm của
chúng ta (là nói thâu chổ phóng tâm lại một nơi) đừng để chạy theo ngoại cảnh lục
trần (như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, đụng chạm, ấm lạnh, cứng mềm,
trong sáu thứ ấy đừng dong ruỗi theo nó) góp hết điện lực của tâm vào một chổ
thì lâu ngày điện lực ấy có một mãnh lực phi thường.
Một thí dụ nữa, sự tịnh tọa như nước để
lóng lâu ngày sẽ trong. Khi nước đã
trong rồi thì có ảnh hiện bao nhiêu hình ảnh ở ngoài vào. Vì vậy các bậc tu chứng sẽ biết việc nhiều kiếp,
hay là quá khứ, vị lai.v.v…
Một thí dụ nữa, chúng ta tu tịnh tọa khi kết
quả phát sanh định, huệ sáng suốt, như lấy
hai thanh tre cưa lâu, sẽ có sức nóng phát sanh, khi đủ sức nóng, chúng ta để
bông vào sẽ cháy. Cưa tre thí dụ cho sự
tu tịnh tọa phát trí, huệ. Nên vẫn biết
chúng ta cũng có thể làm Phật, làm Thánh được.
Nhưng tiếc vì không thực hành, như ta vẫn biết tre có chất lửa mà không
cưa thì bao giờ có lửa?
Nói tóm lại, sự tu tập tịnh tọa, mà được kết
quả là từ xưa tới nay đã có rồi. Vì trào
lưu khoa học, vật chất văn minh, phần đông bị vật chất ngũ quan ru ngủ mê ly
không để ý, đến trong người của ta vẫn có một linh trí (linh trí, tức là tâm)
linh động vô cùng, có thể phối hợp với vũ trụ, trời đất là khi nào ta thực hành
kết quả được hoàn toàn. Trong khi chưa
triệt để kết quả, ta cũng thấy sự ích lợi rõ ràng.
v Thân ta khoẻ mạnh trừ
các bệnh tật (như tôi đã thâu lấy kết quả
và kể ở trên).
v Tâm ta sáng suốt, và
an tịnh nhớ dai (minh mẫn rõ ràng) hơn mọi người, và không bị ngoại cảnh chi phối
ta, thanh thoát tự chủ với tất cả hoàn cảnh.
Nếu chúng ta gia công tịnh tọa lâu ngày, lo gì quả vị Thánh Hiền,
siêu nhân mà ta không đạt tới!... “Như thầy của tôi là Ngài Hư Vân Hòa Thượng,
hiện nay còn mạnh khoẻ đã 118 tuổi, do định lực tu tập lâu ngày. Khi người vào tịnh tọa ba tháng luôn không ăn
uống mà cũng mạnh khoẻ”. Hình ảnh và tiểu
sử của Ngài Hư Vân đã có dịch in Anh Văn truyền sang Âu Mỹ, truyện ấy không ngụy
truyện.
THÁNG 10 NĂM GIÁP NGỌ (1954)
THIÊN
II
TỊNH TỌA CÔNG PHU THEO THỨ LỚP TẬP LUYỆN
A. ĐIỀU HÒA ĂN UỐNG:
Dạy rõ: Trước khi muốn thực hành tịnh tọa cần phải điều hòa sự ăn uống
cho hợp với tịnh tọa.
Luận về nhơn thân của người tựa hồ như cái
máy, nên khi máy động tác, tất phải nhờ có dầu v.v… Thân người còn sống mỗi ngày phải nhờ sự ăn uống. Nên biết sự ăn uống để nuôi sống sanh mạng
ta, nó là một vấn đề quan hệ trọng đại.
Nhưng nếu sự ăn uống không tiết độ, dễ hại bộ tiêu hóa ta, như ăn uống
quá nhiều, thì bộ máy tiêu hóa phải tăng gia công tác sẽ bị tổn thương đến sức
khoẻ của ta. Kết quả của sự ăn uống quá
no, làm cho hơi thở chướng đầy, khi ta tịnh tọa không an ổn được. Trái lại sự ăn uống quá ít không đủ dinh dưỡng
thân thể, làm cho thân thể bạc nhược, tư tưởng bàng hoàng.
Tóm lại, sự ăn uống phải đủ bổ dưỡng thân
ta, như ăn vừa no. Cổ nhân có nói: “Thân
thể nhiều dục thì lao, sự thực, dục phải thường ít, quá nhiều thì sanh bệnh”. Câu ấy thật có ý nhị thay! Lại sự ăn đừng dùng những vị quá nồng hậu
(cao lương) nên dùng rau trái, chất nhẹ dễ tiêu mà đủ chất bổ (rau đậu) thì tốt
hơn hết.
Nên nhớ, khi ăn no không nên tịnh tọa,
thông thường sau khi ăn rồi hai tiếng đồng hồ, mới có thể vào ngồi. Tảng sáng thức dậy súc miệng, chỉ uống nước, khi
bụng trống ngồi tịnh tọa rất hợp vậy.
B. ĐIỀU HÒA NGỦ, NGHỈ:
Chúng ta mệt nhọc tâm và lực, sau khi làm
việc gì, tất nhiên phải có thì giờ để nghỉ cho lại sức khoẻ. Ngủ, đây là thời giờ nghỉ trong một ngày một
đêm (24 giờ). Thường nhơn nghỉ trong ngày
đêm phải đủ tám giờ làm chừng. Nếu quá
nhiều thì tinh thần bị hôn muội. Tập tu
tịnh tọa không hợp nghi. Trái lại, nếu
thiếu tám giờ, tâm thần, thân thể không khoẻ.
Sự tu tập tịnh tọa không thành. Sở
dĩ, nên ngủ nghỉ phải có giờ và tiết độ, cốt để cho tinh thần sáng suốt mới có
thể tu tịnh tọa được.
Mỗi đêm trước khi đi ngủ, ta nên tịnh tọa
hoặc nửa đêm sau khi tỉnh giấc, dậy tịnh tọa.
Tịnh tọa xong, nếu ta cảm thấy chưa thẳng giấc, ta nên ngủ lại. Tóm lại, ngủ nghỉ không nên quá nhiều và quá
ít như trên đã chỉ.
C. ĐIỀU HÒA THÂN THỂ:
Sửa thân thể cho đoan chánh gọi là điều
thân, có ba cách:
1. Trước khi chưa ngồi.
2. Khi đương tịnh tọa.
3. Và sau khi đã ngồi rồi, đều
phải chú ý luôn, thân thể ta động tác như: đi, đứng, nằm, ngồi, trong bốn oai
nghi ấy. Những người tu tịnh tọa, trong
lúc bình thường đi, đứng, tới, lui, phải an tịnh không nên cử động thô lỗ. Nếu cử động thô thì hơi thở ta cũng theo đó
mà thành thô. Tâm lý ta bị xáo động khó
tu tịnh tọa. Vì vậy, nên trước khi chưa
vào ngồi (tịnh tọa) cần phải giữ gìn thân thể cho điều hòa. Như vậy gọi là phương pháp điều hòa thân thể
trước khi chưa vô tịnh tọa.
Giờ đây nói về khi vào tịnh tọa:
Hoặc tại giường ta ngủ. Hoặc là
ta đặc biệt chế riêng một cái giường tọa thiền do tiện nghi nếu có thể.
Trước khi vô ngồi, ta nên vén sửa khăn áo,
nới rộng dây lưng, dây nịt cho ngay thẳng, thung dung vào ngồi. Trước hết sắp đặt hai chân nếu ta muốn ngồi
kiết già (tréo cả hai chân, cũng gọi song tọa) thì lấy bàn chân trái gát lên
trên đùi bên phải. Kế đó kéo chân bên phải gát lên đùi bên trái, trông cho bàn
chân lật trở lên. Lúc bấy giờ, hai đùi
ta giao lại thành hình tam giác, hai bắp đùi bề dưới thẳng, và sát dưới giường
nệm, toàn thân ta căng thẳng tựa hồ cây cung giương, không nên nghiêng ngã bên
tả bên hữu, phía trước hay phía sau, thực hành giống như vậy là đúng phương
pháp.
Song cũng có hạng người tuổi tác, e rằng họ
khó làm y như vậy. Nên cũng có thể cải
dùng cách ngồi. Ngồi bán già, thì lấy
chân bên trái có lại gát lên trên vế bên phải (không cần lấy chân bên phải gát
lên chân bên trái nữa). Lại cũng có một
cách ngồi y như ta thường ngồi xếp bằng, để hai bàn chân xuống dưới (cách này
ít công hiệu).
Kế đó ta đặt để hai bàn tay, lấy lưng bàn
tay bên phải, để chồng lên lòng bàn tay bên trái, kéo lại để gần bụng (dưới
rún) để trên cườm chân tả.
Nhiên hậu, ta mới lúc lắc thân qua bên tả,
bên hữu tám lần, rồi mới ngồi lại ngay thẳng.
Xương sống đừng cong quẹo. Đầu và
cổ phải thật ngay thẳng. Sửa cho lỗ mũi
ngay rún thẳng như chỉ giăng, đừng cúi xuống, cũng đừng ngước lên.
Xong rồi, ta há miệng thổi hơi trong bụng
ra, thổi rồi, ta co lưỡi sát lên trên ổ gà, do từ miệng mũi từ từ hít thân khí
vào ba lần đến bảy lần. Xong rồi ta ngậm
miệng lại, môi răng sát nhau, lưỡi vẫn co sát trên ổ gà y như cũ. Kế đó, nhắm hai mắt lại, thân ta ngồi cho
ngay thẳng, y nguyên không động. Khi ta
ngồi tịnh tọa lâu, cảm thấy thân thể hay đầu cổ hơi cúi, người hoặc nghiêng vẹo,
phải sửa chữa cho ngay thẳng lại. Như thế
ấy, là phương pháp điều hòa thân thể đương khi ta tịnh tọa.
Sau khi ngồi xong muốn dậy, ta phải há miệng
thổi hơi trong miệng ra mười lần, và để hơi nóng trong người ta tan ra ngoài hết,
ta mới từ từ cử động thân thể. Kế đó động
hai vai, cổ, đầu. Và từ từ thả hai tay,
ngay hai chân ra rồi, kế lấy ngón tay cái, xoa lại thật nóng, chà xát trên hai
mi mắt của ta, nhiên hậu mới mở ra. Kế,
xoa vô hai đầu lỗ mũi. Lại lấy hai tay xoa cho
thật nóng, xoa hai bên vành lỗ tai. Xong
xoa lên đầu, bộ ngực, bụng, lưng, hai cánh tay, bắp đùi, cho đến lòng bàn chân.
Khi
ta đương ngồi, huyết mạch lưu thông, thân thể nóng ra mồ hôi, ta nên cho mồ hôi
khô rồi mới cử động (ra đi). Đây là
phương pháp điều hòa sau khi đã tịnh tọa xong.
D.
ĐIỀU HÒA HƠI THỞ:
Hơi
thở trong mũi ra vào gọi là hô hấp, thở ra gọi là hô. Trong một hô hấp gọi là “nhất tức”. Trong khi nhúng
tay vào công việc tịnh tọa, trọng yếu là điều hòa hơi thở.
Trong việc hô hấp có bốn
cách khác nhau:
1. THỞ Ở TỪ CUỐNG HỌNG:
Thông thường những người không biết vệ sinh, họ thở rất ngắn, chỉ từ
đầu cuống phổi ra vào thôi, họ không thể thở hết dung lượng của lá phổi. Bởi thế, không thở hết khí uế trong phổi ra
ngoài nên huyết dịch tuần hoàn không thể tốt được.
2. THỞ TỪ NGỰC RA VÀO:
Đây so với cách thở trước có khá hơn, là khi thở ra vào thông đến bộ
ngực, căng thẳng hai lá phổi. Những người
tập thể thao hay vận động thì hơi thở ra vào chính ở trường hợp này. Nhưng trong hai cách thở này, chưa phải là
cách điều hòa hơi thở.
3. THỞ RA VÀO ĐẾN BỤNG:
Một hô, một hấp, khí thở thông đến bụng dưới, khi hít không khí vào
phổi, đẩy thẳng tới đáy phổi, thông đến xuống bụng phình ra. Lại khi thở không khí bụng thẳng hết, thông
lên bộ phế, đẩy hết khí trong phổi ra ngoài.
Cách thở này mới gọi là điều hòa hơi thở của người tu tịnh tọa.
Người hành giả phải chú ý, hô hấp cần thở nhẹ nhàng không nên dụng
lực. Cốt yếu hơi thở ra vào rất nhẹ, và
rất nhỏ, lần hồi, sâu và dài, tự nhiên thông đến bụng dưới. Mà chính tai mình cũng không nghe thấy tiếng
hơi thở ra vào từ mũi. Như vậy mới gọi
là cách điều hòa hơi thở.
4. HÔ HẤP:
Là do công phu tịnh tọa, lâu năm chầy tháng, thì hô hấp rất sâu và
nhỏ nhít. Một hơi thở ra vào mà chính
mình cũng không hay biết, chừng ấy, trạng thái tốt, đã chứng đến không còn thấy
hô hấp nữa. Tuy là ta còn có khí quản hô
hấp, nhưng không dụng công nữa, mà khí thể “hô hấp” phưởng phất ra vào khắp các
lỗ lông ở toàn thân ta. Đến đây mới đạt
đến chổ kết quả điều hòa hơi thở.
Người học giả, khi bình nhật phải luôn chú ý:
· Hơi thở ra vào, không nên thô cạn (thô tháo nông cạn) phải thở từ
ngực, thông xuống bụng. Đây là phương
pháp điều hòa hơi thở, dù trước khi chưa vào tịnh tọa cũng phải luôn luôn như
thế.
· Khi vào tịnh tọa, hơi thở không điều hòa, tâm không thể an định được. Sở dĩ như thế, nên luôn thở rất hưởn đãi và rất
nhỏ nhẹ. Dài ngắn cho đồng đều. Khi chưa thuần thục, cũng phải đếm hơi thở
trong lúc tịnh tọa.
· Hoặc giả đếm hơi hít vào, từ một đến mười, rồi lại cũng từ một đến
mười, mà nếu khi đếm chưa đủ số mười, tâm ta nghĩ đến việc khác hoặc giữa chừng
gián đoạn. Ta phải bắt đầu từ một đếm lại
cho đến mười, thay đổi tập luyện lâu ngày sẽ thuần thục (quen) tự nhiên mỗi mỗi
hơi thở đều được điều hòa. Đấy là phương
pháp dạy điều hòa hơi thở đương khi ngồi tịnh tọa.
· Do điều hòa hơi thở nên huyết dịch lưu thông, châu thân ta ôn nhiệt,
nên khi ngồi rồi phải há miệng thổi hơi trong miệng ra cho thân thể ta sức nóng
giảm hết, bình phục lại như thường, khi ấy mới đi ra. Đây là phương pháp điều hòa hơi thở, khi tịnh
tọa xong.
E. ĐIỀU HÒA TÂM:
Chúng ta từ khi sanh ra đến giờ luôn sống theo vọng niệm, mỗi niệm
sanh diệt không ngừng. Nên gọi là “tâm
viên ý mã” (tâm như vượn, ý như ngựa, chạy và chuyển không ngừng) rất khó điều
phục, nên công phu tịnh tọa là cứu cánh, để điều phục vọng tâm. Chúng ta thường ngày trong bốn oai nghi, ngoại
trừ khi chưa ngồi và chưa nằm, thì đi, và đứng, ta phải luôn luôn kiểm điểm lại
oai nghi này, một lời nói, một hành động, cần phải giữ gìn tâm ý, nếu để nó
rông rỗi theo ngoại cảnh, sẽ bị loạn tâm.
Như vậy, lâu ngày tự nhiên điều phục dễ dàng. Như thế là phương pháp điều hòa tâm, trước
khi vô (ngồi) tịnh tọa.
1) KHI
VÔ TỊNH TỌA, có hai thứ tâm trạng:
a) Tâm đã tán loạn duy trì
không an định.
b) Tâm ta hôn trầm (tựa hồ ngủ
gục, mê muội). Đại phàm, người sơ học tu
tịnh tọa, lo nỗi loạn tâm, nên luyện tập lâu ngày thì vọng niệm bớt, còn lo nỗi
hôn trầm (ngủ gục). Đây là thông bệnh của
người khi còn dụng công thường có như vậy.
TRỊ CHỨNG LOẠN TÂM: Phải mọi việc đều buông bỏ,
chính như thân thể ta, và cảnh bên ngoài, xem như không có (đừng đắm nhiễm một
cái gì cho là thật và cố ý) chỉ chuyên tâm nhất niệm, để tư tưởng dưới bụng thì
tự nhiên trừ được vọng niệm, loạn tâm (an định được).
TRỊ CHỨNG HÔN TRẦM: Nếu để tâm, chú ý tại đầu
lỗ mũi, khiến cho tinh thần thơ thới.
(Buổi chiều và buổi tối, tịnh tọa thường bị hôn trầm ngủ gục, nhân vì cả
ngày mệt nhọc nên dễ ngủ gục). Nên ta
luôn dùng phương pháp, đếm hơi thở, từ một đến mười, đếm đừng lộn, lâu ngày
thành quen, tâm với hơi thở nương nhau, thì tán loạn và hôn trầm đều hết cả. Đấy là phương pháp dạy đương khi (ngồi) tịnh
tọa điều hòa tâm niệm rồi.
2) SAU KHI TỊNH TỌA XONG:
Phải
luôn luôn lưu ý, đừng để loạn tâm, loạn tưởng (nghĩ vớ vẫn tạp loạn). Đây là phương pháp dạy sau khi đã tịnh tọa luôn giữ
gìn tâm niệm không cho tán loạn.
Tóm lại từ trước chỉ dạy:
a) ĐIỀU THÂN
b) HƠI THỞ
c) ĐIỀU TÂM
Ba phương diện ấy, trong
thực tế tương quan nhau, nên phải đồng thời mà thực hành. Nhưng vì trên văn tự chép ra, thì phải chia
ra làm ba giai đoạn.
Người học giả và tu tập tịnh
tọa, khéo lãnh hội, không nên theo văn chương chia ra tiết mạch khác nhau.
THIÊN III
LỤC DIỆU PHÁP MÔN
(SÁU PHƯƠNG PHÁP HUYỀN DIỆU)
Chương thứ hai đã giảng về công phu “Điều
Hòa” tuy nhiên điều hòa thân, điều hòa hơi thở, điều hòa tâm, ba việc đều nói
rõ, nhưng thiên trọng, tại phương diện “Thân” pháp môn chỉ quán thời chú trọng
về phương diện của “Tâm”.
Chương Lục Diệu Pháp Môn này, chú trọng về
phương diện “hơi thở”. Hơi thở là nguồn
gốc của sanh mạng, thí dụ như hơi thở đi ra không trở vào, thì thân thể ta khi ấy
là “tử thi”. Thần kinh không còn tác dụng,
sanh mạng tới đây là hoàn toàn chấm dứt.
Duy có nương tựa hơi thở này thì thân tâm liên kết, mới có thể duy trì
sanh mạng ta.
“Khí thể” ra vào nơi lỗ mũi, nương nơi hơi
thở, chúng ta mắt thịt nên xem không thấy.
Mà khí thể rõ ràng có hình chất, đã có hình chất thì là “vật”, đã là vật
thì là một bộ phận thuộc “thân thể”.
Chúng ta biết “hơi thở ra vào” thì biết rằng:
Đó là “Tâm” nó thuộc một bộ phận của “tinh thần” có thể thấy “hơi thở đây” nó
thường liên kết với thân tâm. Nhơn vì nó
là bổn thân, là một bộ phận của “Thân Tâm”.
Lục Diệu Pháp Môn chuyên dạy người trên
công dụng của hơi thở, là phương pháp tịnh tọa, triệt thỉ, triệt chung. Người học giả tu tập “chỉ quán”. Về sau tấn tu phương pháp này cố nhiên khả
dĩ.
Nếu chưa tu tập pháp môn chỉ quán, một bề
tu tập pháp môn này (Lục Diệu Môn) đương nhiên cũng tốt vậy.
Lục Diệu Môn có sáu tên:
1. Sổ; 2. Tùy; 3. Chỉ; 4. Quán;
5. Hoán; 6. Tịnh.
1) Sổ: Là đếm hơi thở và có hai cách:
a) Tu Sổ:
Người học giả vào tịnh tọa, trước hết phải điều hòa hơi thở, không nghẹt, không
thô. Phải rõ ràng từ từ mà đếm, từ một đến
mười, lấy hơi và làm chừng. Tùy tiện của
mỗi người. Nhưng không nên đếm hơi thở cả
ra lẫn vào. Tâm chú tại nơi đếm không cho tán động.
Nếu đếm chưa tới số mười,
mà tâm thoạt tưởng việc khác, thì phải trở lại đếm từ một đến mười. Đây gọi là Tu Sổ Tức.
b) Chứng Sổ: đếm hơi thở lâu ngày, lần lần thuần thục
(quen) từ một đến mười, tự nhiên không lộn, hơi thở ra vào rất nhỏ nhẹ. Thời kỳ này hiểu được công dụng mà không chấp
trước nơi sự đếm. Gọi là Chứng Sổ Tức.
Từ đây trở về sau, phải xả
Sổ Tu Tùy.
2) Tùy: có hai thứ
a) Tu Tùy: là xả phương pháp đếm hồi trước, chỉ nhất
tâm theo hơi thở ra vào. Tâm tùy nơi hơi thở “ra vào”. Hơi thở cũng tùy nơi tâm: “Tâm, hơi thở”
nương nhau, nhỏ nhiệm (như tơ) gọi là Tu Tùy.
b)
Chứng Tùy: Tâm đã lần nhỏ, biết hơi dài, ngắn, ra vào, khắp cả
châu thân. Các lỗ lông, cảnh của “Ý Thức”,
yên tịnh lặng lẽ. Đây gọi là Chứng
Tùy. Lâu ngày, hiểu được “Tùy Tức” e nó
còn thô. Nên xả “Tùy” tu “Chỉ”.
3) Chỉ: cũng có hai thứ
a) Tu Chỉ: Không bỏ “Tùy Chỉ” vin theo một cái tâm,
như cố ý, như không chú ý. Cái “Chỉ” ở
nơi đầu lỗ mũi, ấy gọi là Tu Chỉ.
b) Chứng Chỉ: Tu Chỉ về sau, thoạt vậy hiểu rõ (thân
tâm) hảo tượng không, bặt vậy “Rỗng” nhập định, ấy gọi là Chứng Chỉ.
Dụng công tu tập đến đây, người học giả
nên biết “Định Cảnh”, tuy tốt, nhưng cần phải dụng tâm sáng suốt, phản chiếu,
“khiến nó rõ ràng, không ngu chấp nơi “Chỉ” đến thời kỳ này, phải gồm tu cả
“Quán”
4) Quán: cũng có hai:
a) Tu Quán: Đến lúc này trong định tâm nhỏ nhít, thẩm
xét hơi thở ra vào như gió ở hư không, ấy gọi là Tu Quán.
b) Chứng Quán: Như thế, quán lâu, “Tâm
Nhãn” mới tỏ thấy “Hơi Thở” ra vào khắp các lỗ chân lông, ấy gọi là Chứng Quán.
Ở nơi cảnh “ Tu chỉ này”
quán sát hai pháp tuy sánh với chương trước, danh từ “Chỉ Quán” đồng nhau mà ý
nghĩa hơi khác, bởi vì ở trước nói “Chỉ Quán” là tự nơi ”Tâm mà tu” mà ở nơi
đây thì “Chỉ Quán” từ nơi “Hơi Thở mà tu”.
Tu Quán lâu rồi phải tu “Hoàn”.
5) Hoàn: cũng có hai:
a) Tu Hoàn: Chúng ta phải dụng tâm
mà quán chiếu “Hơi Thở” thì có tâm trí “Năng Quán” và cảnh “Sở Quán” là hơi thở,
cảnh cùng với trí đối lập (tương đối không phải tuyệt đối). Nên phải đem trở về bổn nguyên của tâm, ấy gọi
là Tu Hoàn. Tâm trí “Năng Quán" là
từ nơi tâm sanh ra, đã tu tâm sanh ra nên tùy tâm mà diệt. Một sanh, một diệt vốn là huyễn vọng không thật
có. Nên biết tâm sanh, diệt thí dụ trên
nước nổi sóng không phải là nước, sóng yên mới thấy rõ chơn diện mục của nước.
Sanh, diệt của tâm như
sóng, không phải là chơn tâm, phải quán sát chơn tâm vốn tự không sanh nên
không có, không có nên tức là không, không có tâm “Năng Quán”. Không có tâm “Năng Quán” cũng không có cảnh
“Sở Quán”.
b)
Chứng Hoàn: Cảnh trí cả
hai đều mất, ấy gọi là Chứng Hoàn. Đã chứng
rồi còn có một tướng “Hoàn” phải xả “Hoàn” tu tịnh…
6) Tịnh: lại có hai:
a) Tu Tịnh: Nhất tâm thanh tịnh, không khỏi niệm phân biệt, ấy gọi là Tu Tịnh.
b) Chứng
Tịnh: Tâm như nước vọng tưởng hoàn toàn không, chơn
tâm hiển hiện (không phải là vọng tưởng) chỉ có một “Chơn Tâm”.
Nên biết, trái “Vọng” gọi là “Chơn”, cũng như
sóng yên là nước, gọi là Chứng Tịnh.
Trở về trước của Lục Diệu
Pháp Môn, thì “Sổ” với “Tùy” tu hành trước hết, “Chỉ” với “Quán” là chánh
tu. “Hoàn” với “Tịnh” là kết quả của sự
tu hành. Nhưng chính của Lục Diệu Pháp
Môn này là “Chỉ” làm chủ. “Quán” chỉ giúp cho cái “Chỉ” này rõ ràng sáng suốt,
nhiên hậu, mới có thể kết quả đến “Hoàn” với “Tịnh”.
THIÊN
IV
THIỆN CĂN PHÁT
Trong bộ Đồng Mông Chỉ Quán dạy: “Người tu thiền định (tịnh tọa)
thiện căn phát hiện có tám thứ cảm xúc:
1. Khinh (nhẹ nhàng)
2. Noãn (ấm áp)
3. Lãnh (lạnh)
4. Trọng (nặng)
5. Động
6. Ngứa
7. Rít
8. Trơn (bốn món trước là Thể,
bốn món sau là Dụng)
Do tôi đã thực nghiệm rồi, trong tám món tướng nói trên không phải
đồng thời phát sanh.
Thời gian tôi hai mươi tám tuổi tu tịnh tọa phát sanh ra tướng:
1) Khinh an (nhẹ nhàng)
2) Ấm áp
3) Động (chuyển động)
Tôi tịnh tọa lần sau thì cảm giác thân tôi nhẹ như lông hồng (khinh
an).
Đây cảm giác trước hết: Bụng tôi phát nóng sôi (Noãn ấm áp) và phát
sanh động lực, từ xương sống lên trên não bộ.
Lại từ mặt theo thần kinh xuống bụng, cứ thứ lớp như vậy chuyển động (gọi
là lục mạch). Tôi dụng “Chỉ Quán”. Công phu tu tập về sau tôi để tâm ý như tập
trung nơi dưới bụng. Bấy giờ tôi lại giữ tâm ở bên trong người tôi, chưa bao lâu
thân thể tôi, đại phát động thông suốt âm dương lục mạch âm kiển, âm duy, dương
duy, xung động. Khi tôi đổi, thủ tâm an
tại bên trong người tôi, về sau, nửa đêm dậy ngồi, trên ngực tôi xung động, miệng
tôi ra nhiều nước miếng, liền như thế mấy đêm, phát động lực lên thẳng chính giữa
hai đôi mày tôi tự thấy phát sanh hào quang sáng tỏ, đi thẳng lên đỉnh đầu, rồi
xoay vòng lâu giống như điện chớp, đi quanh cả châu thân tôi. Kế đi qua hai tay chân trải qua hơn hai tiếng
đồng hồ, trở về chính giữa đôi mày tôi, rồi đình chỉ tại đấy, từ đó trở về sau,
mỗi đêm đều như thế (phát sanh hào quang sáng tỏ). Chính giữa người tôi, là một cơ quan phát
sanh, hình ảnh tốt ấy xoay chuyển lần lần đi lên đỉnh đầu, theo đó mà chuyển động. Sau cùng đình chỉ ở mi gian (chính giữa đôi
lông mày). Kế đó trong người tôi phát động,
từ nơi vai bên tả, đến đùi bên tả, hình tượng tốt như dây điện sáng, xoay quanh
giữa mình tôi một vòng tròn, giường mùng đều chấn động rồi đình chỉ.
Sau lại từ não bộ chấn động, đến vai xuống xương sống, xương mông;
lại từ vai bên mặt về bên mặt, hình tượng ấy sáng rực một vòng luân chuyển như
trên.
Mỗi khi động lực ấy phát khởi, trong người tôi biến hóa.
Có một đêm nọ, động tự mặt và hai lỗ tai, hảo tướng thẳng một đường
đi từ não bộ xuống giữa đôi mày giống như một trực tuyến hiệp lại thành hoành
tuyến (ngang) thành hình chữ thập, lên xuống nhiều lượt, rồi đứt tại chính giữa
đôi lông mày. Kế đó lại từ đỉnh và ngực,
bụng, đi xuống đầu âm (ngọc hành) giống như cây cung, từ đầu âm đi lên đầu nhiều
lần.
Có một đêm đó, trong người
tôi phát nhiệt chuyển động cả mình, khi cúi, khi ngước, bên tả, bên hữu, theo
thứ tự chuyển động mấy phen, trước, sau, mặt, trái (không lộn xộn) xuống hai
tay. Tròn như bánh xe, vào bên trong,
bên ngoài theo thứ lớp không sai. Sau động
đến chân.
Đây do tịnh tọa nơi sanh lý tự nhiên phát sanh ra như trên đã kể
rõ, đấy không phải dụng ý chỉ huy (hay cố tâm).
Khi tứ chi cử động rồi, thoạt nhiên cảm giác thấy đầu lớn và rộng
ra. Trên nửa mình tôi cũng thấy lớn cao
hơn mười thước (theo như trong kinh Phật nói: Hiện đại thân) đầu cúi xuống, bộ
ngực cũng thấy rộng lớn như cõi hư không.
Lại ngước về phía trước, bộ vai cũng rộng lớn như cõi thái hư. Lúc bấy giờ tôi chỉ cảm giác nửa thân mình dưới,
chưa có cảm giác nửa thân mình trên.
Thân tâm tôi đều “Không” phi thường là an lạc.
Có một đêm đó, chuyển động từ vai xuống xương sống, xoay bên tả, hữu
đồng nhau vòng tròn lớn chuyển động mười lần.
Lại từ trong bụng vòng xoay quanh bên tả, hữu mười lần. Lại từ mặt đến bụng đi trở lại đường khác.
Đại khái mạch lạc đều thông suốt cả.
Có một đêm đó, động lực từ lưng xoay vòng tròn từ trong bụng đến
bên ngoài, xoay bên tả, hữu, ba mươi sáu lần theo thứ lớp, từ đầu xuống bụng
tay chân. Đây là sanh lý tác động tướng
kỳ diệu như thế ấy, thật không thể nghĩ bàn.
Lại từ đầu, thông xuống tay chân thẳng co chuyển động, khi ở mũi, ở hai
mắt, da mắt lúc mở lúc nhắm, trong con mắt cũng tùy đó chuyển động đến hai lỗ
tai cũng như thế ấy. Có một đêm cũng từ
trong người tôi có một vòng tròn lớn chuyển động, y theo hệ thống cũ, xây động
ba mươi lần, từ đầu xuống khắp châu thân.
Những tướng chuyển động từ trước tới đây, khởi đầu mỗi đêm đều có,
hoặc một thứ động tác nối liền mười ngày rồi hết.
Hoặc có một đêm biến ra nhiều tướng động khác nhau, gần nửa năm, lần
lần mới giảm bớt và đình chỉ hẳn. Trật tự
chuyển động đi không sai đường lối, mà tôi không dụng ý chỉ huy, thật là kỳ diệu
thay!... Đại khái, toàn thân mạch lạc thông suốt, về sau tôi không còn cảm thấy
tướng gì nữa. Trong đây chép rõ ngày giờ
mỗi tướng trạng chuyển động, nhưng tôi toát yếu cho gọn. Đại khái phân ra bốn loại:
1) Tay, chân co múa
2) Đánh
3) Cọ xát
4) Căng thẳng
THIÊN
V
KẾT QUẢ
Tôi
từ trước vẫn tu tịnh tọa “Chỉ Quán” là tôn chỉ.
Đến ngày 24 tháng 5 năm 1937 tôi vào tịnh tọa rồi, trong bụng phát hào
quang lần lần rộng lớn bao hàm cả toàn thân tôi, một vòng lớn (trước kia chỉ đầu
và bụng có hào quang) như thế ấy. Qua
ngày 26-4-1937 sau khi tôi vào tịnh tọa rồi, trên lưng đều phát hào quang như
đèn chiếu xa, nhưng tôi còn cảm giác có thân, chưa “Chứng Lý Chơn Không”.
Qua
ngày 27-5-1937, tôi vào tịnh tọa, hào quang phóng cao đến mây xanh (vân tiêu),
thần thức tôi cũng xuất ra đi. Sau lần lần
thâu nhập vào đỉnh đầu tôi. Đến ngày
31-5-1937, tôi vào tịnh tọa, trên thân tôi phóng hào quang như hôm qua. Tôi cảm thấy dưới bụng tôi nóng sôi, thoạt
nhiên cũng phóng hào quang, dưới nửa thân mình tôi như hư không (từ trước chưa
có).
Ngày
10-6-1937 khi tôi vào tịnh tọa, toàn thân tôi đều phóng hào quang (tôi tự cảm
thấy trên đầu chưa, chỉ hào quang chói đến).
Qua
ngày 14-6-1937 khi tôi vào tịnh tọa, toàn thân phóng hào quang, thông suốt cả
trên dưới.
Ngày
17-6-1937 khi tôi vào tịnh tọa, tự thấy hào quang chiếu diệu “Tâm Mục” rất
sáng, từ trên dưới, tả, hữu khắp cả đều sáng thành hình tròn lớn.
Ngày
18 tháng 6 năm 1937, khi tôi vào tịnh tọa, cả thân phát hào quang, trên dưới tứ
phía sáng rực thông suốt như ngọn đèn pha, thần thức tôi bấy giờ du hành trên
không trung, sau lại thâu vào bụng, da dĩ đàn luyện, khi thì vào hai chân, khi
thì vào đầu rất tự tại.
Từ
trước đến nay là do tôi trì chí tu tịnh tọa, nên được kết quả khả quan thế
này. Thân thì có hào quang, tâm thần tự
tại an vui thanh tịnh.
KẾT
LUẬN: Phương pháp tu tịnh tọa này chính
tôi thực hành, kết quả mỹ mãn, tôi viết ra đây:
1) Đã từng kinh nghiệm đúng
theo phương pháp tịnh tọa nên được kết quả tốt.
2) Chú trọng sự thực hành phải
hiểu rõ sự lý rành mạch (như đã dạy trong bài này).
Tôi không lý luận suông, nhận thấy chẳng
ích gì. Như người luận món đồ ăn ngon,
mà chính họ không ăn, thì trong bụng vẫn đói.
Do
trước kia, tôi có rất nhiều tật bệnh (khi còn niên thiếu) nên tìm phương pháp tịnh
tọa này để trừ bệnh thoát chết. Nhưng
khi khỏi bệnh rồi, tôi cưới vợ, tha hồ trụy lạc theo dục tình (không tiết chế dục
vọng), không còn phương pháp nào cứu chửa.
Nhưng may thay vì sợ chết, nên tìm phương tịnh tọa: Trước hết cứu chửa
lành các tật bệnh. Tôi lại nhận thấy con
người sanh ra chả nghĩa lý gì, chỉ làm tôi mọi cho xác thịt, cho thị dục, lo
cơm, lo áo, và chạy theo danh lợi ảo mộng, như người bắt bóng chả được chi, luống
uổng một kiếp người, khi chết cũng hai bàn tay không!...
Nghĩ
thế nên tôi tu tịnh tọa luôn tới ngày nay, được kết quả như đã kể trên. Tâm thần thanh tịnh, an vui giải thoát, thân
thể thì có hào quang sáng ngời, tự tại vô cùng.
Ấy là do công phu tu tập chẳng lạ gì.
Ai ai cũng làm được, duy chỉ ta phải kiên tâm trì chí, thì được kết quả
không sai.
Rất
tiếc thay, tuổi trẻ dễ bị đắm chìm theo thị dục và lợi danh cám dỗ. Khi tỉnh lại giấc mơ thì khí cùng lực cạn,
cái già, cái chết chực sẵn bên ta rồi.
(Nếu ai nghĩ gì khác hơn, họ cho là chán đời yếm thế. Cùng rủ nhau một ý tưởng đắm chìm, họ cho là
vui tươi hạnh phúc. Vì tôi, trước đã bị
sa chơn, lạc lối như họ. May mà tìm được
phương thuốc tu tịnh tọa này, thoát khỏi cạm bẩy của đời, tôi tự thấy an lạc chẳng
ai bằng. ngoảnh lại cái dục vọng trước
kia, nó nhỏ hẹp chẳng đáng kể.
Rất
mong, tuổi trẻ thấy rõ chổ ấy, khi già khỏi phải ăn năn đã muộn. Sớm đặt mình trên sự sống cao cả hơn trần
gian. Thân sẽ được tráng kiện, tâm thì
sáng suốt lần lần, không bị một cái gì ràng buộc, trên xác thịt như ai kia.
Vì
lẽ tôi đã chứng nghiệm nên viết ra thiên này cũng dạy được nhiều người kết quả
như tôi, và trừ hết các bệnh tật.
Viết
xong vào mùa Đông
Năm GIÁP
NGỌ 1954